Chung cư Gia Phú , Khu Phố 19 , phường Bình Hưng Hoà , Bình Tân
Ông Tuệ Tĩnh, tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh (1330-1400); là Danh Y nổi tiếng của nước ta dưới thời Nhà Trần; quê ở Huyện Cẩm Giang, Tỉnh Hải Dương. Ông mồ côi cha mẹ khi mới lên 6 tuổi và được các Nhà Sư nhận về chùa và nuôi ăn học. Ông Tuệ Tĩnh là người rất chăm chỉ và học giỏi. Ông thi đỗ làm quan nhưng không màng danh lợi mà xin về đi tu tại chùa và lấy pháp danh là Tuệ Tĩnh. Vốn là người thông minh lại ham học hỏi, ông Tuệ Tĩnh chuyên tâm nghiên cứu y học cổ truyền, sưu tầm nhiều cách chữa bệnh trong dân gian: trồng cây làm thuốc, chữa bệnh cứu người. Ông cùng dạy và huấn luyện cho rất nhiều đệ tử, tăng đồ.
Ông đã viết các tập sách “Nam dược thần hiệu", hướng dẫn gần 4000 phương thuốc quý và cách chữa trị gần 200 loại bệnh. Những cuốn sách của ông đã trở thành tài liệu quý cho ngành Y khoa Việt Nam, phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập, thực hành chữa bệnh bằng thuốc nam ở trong nước.
Ông Tuệ Tĩnh cũng nghiên cứu rất kĩ về khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm thường xuyên của nước ta; chỉ ra các loại bệnh mà người dân hay mắc phải cùng với những bài thuốc chữa trị. Ông luôn lo lắng cho nhân dân, sợ nhân dân mắc bệnh mà chết: Ông dạy nhân dân cách trồng cây thuốc chữa bệnh, cách chăm sóc sức khỏe và phòng tránh bệnh tật; cả cuộc đời của ông sống chỉ để chữa bệnh cho dân với tấm lòng y đức. yêu nước thương dân.
Ông Tuệ Tinh có câu nói nổi tiếng “Nam dược trị Nam nhân” nghĩa là "Thuốc Nam dùng chữa bệnh cho người Việt Nam"; Tư tưởng, quan điểm của ông đã khẳng định mối quan hệ gắn bỏ không thể tách rời giữa con người với tự nhiên, thiên nhiên và môi trường sống xung quanh; Ông đề cao việc chủ động phòng bệnh, tận dụng thảo dược thiên nhiên, phát huy thế mạnh của toàn dân để tạo ra sức mạnh.
Ông Tuệ Tình không chỉ học Y. hành Y và cứu người mà còn là người tiên phong viết sách, truyền những bài thuốc nam đến với nhân dân và có giá trị muôn đời. Danh y Tuệ Tĩnh được mệnh danh là "ông tổ" của thuốc Nam, là tấm gương sáng và là người đặt nền móng cho ngành y học cổ truyền của Việt Nam.

Bài học giáo dục
Câu chuyện về ông tổ thuốc nam Tuệ Tĩnh đã giúp cho chúng ta học tập được những bài học làm Người vô cùng sâu sắc và ý nghĩa. Đó là bài học về sự chăm chỉ lao động, học tập: chi và nghị lực vươn lên trong cuộc sống: không vì danh lợi của bản thân một lòng yêu nước thương đầu, chăm lo cho nhân dân; sống giản đi chân thánh thiện lương và để lại tiếng thơm cho muôn đời. Chúng ta nên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lao đồng, học tập thật tốt, sống và làm việc tốt mỗi ngày để trởthành những người có ích cho xã hội. cho quê hương đất nước, noi gương các thế hệ cha ông.
Tin tức mới 07.01.2026
CÂU TRUYỆN VỀ VUA TRẦN ANH TÔNG KHÔNG DÁM ĐỂ CHO CHA MẸ PHẢI BUỒN
Câu truyện về vua TRẦN ANH TÔNG không dám để cho cha mẹ buồn lòng vì mình
Tin tức mới 07.01.2026
Công Chúa An Thường Tấm gương hiếu thảo
Chuyện kể rằng khi công chúa An Thường lên 9 tuổi, một hôm mẹ nàng bị ốm, cũng đúng vào tiết Vạn thọ, các hoàng nữ vào hầu cơm. Gặp đại quan tiến món đuôi dê và nầm dê, vua ban cho các hoàng nữ ăn. Đến lượt công chúa, nàng chỉ ngậm mà không nuốt. Vua lấy làm lạ mới hỏi tại sao, công chúa đứng dậy ra khỏi tiệc tâu rằng: “Mẹ thần có bệnh, không được tham dự. Thần nghe nói món này rất bổ, nên để lại cho mẹ”. Vua rất khen, cho riêng một đĩa khác sai mang về cho mẹ. Mọi người trong triều đều cảm động khen ngợi.
Tin tức mới 07.01.2026
Chữ HIẾU và những tấm gương đức hạnh Việt Nam
Cây có cội, nước có nguồn, làm con phải nhớ ân đức sinh thành, dưỡng dục của tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Đó là một mỹ đức, là truyền thống văn hóa tốt đẹp từ ngàn đời nay của dân tộc Việt Nam. Khi nói đến chữ Hiếu, chúng ta liền nghĩ ngay đến việc thờ cha, kính mẹ, như bài ca dao vỡ lòng mà ai ai cũng thuộc: Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ “Hiếu” mới là đạo con” hoặc như trong “Quốc văn giáo khoa thư” ngày trước có ghi: Cha sinh mẹ dưỡng, Đức cù lao lấy lượng nào đong. Thờ cha mẹ ở hết lòng, Ấy là chữ hiếu dạy trong luân thường”. Cha mẹ nuôi con công lao khó nhọc, kể sao cho xiết. Công ơn, ân đức của cha mẹ đối với chúng ta cao hơn núi, sâu hơn biển, không thể nào đong đếm được. Trong “Kinh i” có câu rằng: “Thương thương cha mẹ sinh ta khó nhọc. Cha sinh ta, mẹ nâng đỡ ta, vuốt ve ta, cho ta bú, nuôi ta lớn lên, dạy dỗ ta, đoái tưởng đến ta, săn sóc dạy dỗ ta, che chở ta.Muốn báo ơn sâu như trời cao lồng lộng, sâu thẳm vô cùng”. Công ơn cha mẹ lớn lao là vậy, phận làm con nếu như luôn nghĩ đến thâm ân cha mẹ, luôn nghĩ nhờ có ân đức của Tổ Tiên thì mới có ta ngày hôm nay, vậy thì trong lòng sẽ trở nên nhu nhuyến, nồng hậu. Có lẽ trong tất cả những điều con người có thể nghĩ tưởng, thì nghĩ về cha mẹ là điều tuyệt vời nhất. “Nghĩ về mẹ, trời luôn tươi sắc nắng Hoa trong vườn không gió cũng xôn xao”. Người xưa nói: “Tri ân, báo ân”, đó chính là khi đã biết ơn cha mẹ thì phải báo ơn cha mẹ. Vậy việc thờ cha kính mẹ như thế nào mới trọn đạo làm con? Về việc phụng sự cha mẹ của người con hiếu, Thầy Mạnh Tử dạy là: “Cư xử phải hết lòng kính trọng, dưỡng nuôi phải hết lòng vui vẻ, làm đẹp lòng cha mẹ, bệnh đau phải tận tâm lo lắng, tang ma phải hết sức xót thương, tế lễ phải nghiêm trang rất mực”. Thực hành hiếu thảo cha mẹ chính là làmtròn bổn phận làm con, mà cũng là trọn đạo làm người. Lòng Hiếu thảo của những người con không những được thể hiện qua phương diện chăm sóc lo lắng cho cha mẹ về vật chất mà còn phải tâm tâm niệm niệm lắng nghe được những trăn trở những nhu cầu về tinh thần của cha mẹ. Về phương diện vật chất, tùy điều kiện, hoàn cảnh mà nuôi dưỡng, chăm lo săn sóc cho cha mẹ như cơm nước, áo quần, thuốc men… Về phương diện tinh thần, luôn tỏ lòng kính yêu cha mẹ,sống tốt, biết lo cho bản thân và gi a đình, trở thành người hữu ích cho xã hội để cha mẹ yên tâm và tự hào, không làm cho cha mẹ buồn lòng, không làm cho cha mẹ tủi hổ vì những việc sai trái, tội lỗi. Đó là Hiếu khi cha mẹ còn sống. Sau khi cha mẹ qua đời, lòng hiếu thảo được thể hiện quaviệc phụng thờ và tưởng nhớ. Tấm lòng người xưa đối với ông bà cha mẹ đã khuất thể hiện qua câu “kính như tại”, có nghĩa là kính như đang còn sống. Phụng thờ để tưởng nhớ và nhắc nhở nhau công đức, ân nghĩa sinh thành dưỡng dục của ông bà cha mẹ. Hàng năm cúng giỗ để tưởng nhớ và để bày tỏ lòng biết ơn. Hơn nữa, người con chí hiếu còn phải biết dưỡng chí cho cha mẹ. Bản thân thực hành hiếu đạo theo lời dạy của ánh Hiền, nếu cha mẹ còn sống thì phải biết hướng cha mẹ tu thân, hành thiện, hướng tới những điều thiện lành, xây dựng hạnh phúc cho đời này và đời sau. Nếu cha mẹ đã khuất thì phải lập thân hành đạo, dương danh cho hậu thế, làm rạng danh cha mẹ, đó chính là tận cùng của chữ Hiếu vậy. Lòng Hiếu thảo chẳng những có ý nghĩa về mặt văn hóa, đạo đức mà còn có tác dụng giáo dục. Người xưa nói: “Người hiếu thuận lại sinh con hiếu thuận, người ngỗ nghịch lại sinh con ngỗ nghịch. Nếu không tin thì hãy xem nước mái nhà nhỏ xuống, giọt giọt không sai lệch”. Cho nên, người biết hiếu thảo với ông bà cha mẹ của mình sẽ là tấm gương sáng cho con cháu noi theo, đó là bài dạy hiếu đạo không lời, là truyền thống “uống nước nhớ nguồn” quý báu. Là người Việt, chúng ta hãy lật từng trang sử để càng thêm yêu đất nước và con người Việt Nam. Dân tộc ta có rất nhiều gương hiếu thảo, đó đều là những tấm gương sáng để con cháu ngàn đời kế thừa và tiếp nối. Kính mời Quý vị cùng đọc chương HIẾU của cuốn sách “NHỮNG TẤM GƯƠNG ĐỨC HẠNH VIỆT NAM”!
Tin tức mới 07.01.2026
Đô đốc Thượng tướng quân Lê Phụng Hiểu từ chối chức quan về chăm sóc Mẹ
Lê Phụng Hiểu (982 – 1059) là một vị đại tướng uy dũng nhà Lý, phụng sự ba triều vua đầu tiên của nhà Lý: là Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông. Ông là người có công rất lớn trong việc phò vua Lý Thái Tông còn gọi là Lý Phật Mã lên ngôi. Lê Phụng Hiểu là người hương Bắc Sơn, Ái Châu (Thanh Hoá). Mẹ của Phụng Hiểu là bà Lê Thị Tố Nương, gần ba mươi tuổi mới lấy chồng. Phụng Hiểu mới lên ba tuổi thì mồ côi cha, nhà rất nghèo, ở với mẹ trong túp nhà tranh ở thôn Cổ Bi dưới chân núi Băng Sơn. Phụng Hiểu có vóc sức khoẻ mạnh, hơn sáu tuổi đã làm được mọi việc giúp mẹ. Hơn mười tuổi đã cày thuê cuốc mướn, làm được mọi việc nặng nhọc. Lúc này sức mẹ cũng đã yếu, hàng ngày Phụng Hiểu vào rừng hái củi để bán lấy tiền nuôi mẹ. Lại tự vào rừng chặt tre, đẵn gỗ, mang về dựng lại nhà, mở rộng vườn trồng trọt, khai phá đất đồi làm thêm thóc gạo.
Tin tức mới 07.01.2026
Mai Thúc Loan (670-723) tên thật là Mai Phượng, tự là Thúc Loan, quê ở làng Mai Phụ, xứ Thiên Lộc, thuộc Hoan Châu (nay là làng Ngọc Trừng, xã Nam Thái, huyện Nam Đàn, Nghệ An). Không người thân, họ hàng, cuộc sống của mẹ con Mai Thúc Loan trải qua bao đắng cay, cực khổ. Mai Thúc Loan lớn lên trong sự yêu thương, che chở của mẹ và ông luôn cố gắng để trở thành nguồn động lực cho bà. Là người con hiếu thảo, từ nhỏ, Mai Thúc Loan đã theo mẹ vào rừng hái rau, hái măng, đốn củi đem xuống chợ để bán. Lớn lên, ông đi chăn trâu cho nhà giàu trong vùng đỡ đần mẹ. Cuộc sống lam lũ, nghèo khó dường như đã tiếp thêm sức mạnh, nghị lực cho người anh hùng sớm nuôi chí lớn. Mai Thúc Loan nổi tiếng là người có sức khỏe, thông minh, tài trí hơn người và là một trong những đô vật nổi tiếng khắp vùng.
Copyright © 2025 Mầm Non Nắng Mai .